votinh2089Thành viên từ 2011

Thảo luận về việc ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

Trả lời (31)

  1. longkhoihvtc

    Thành viên từ 2011

    #24 ·

    Tùy chọn cho trả lời #24

    V363120 viết:

    Bạn phải xem rõ chủ quyền là cấp cho ông hay hộ ông. Nếu cấp cho ông thì ông x và bà y đều ký hđ, bà y ko ký trong trường hợp chứng minh ts thế chấp là tài sản riêng của ông x. Trường hợp cấp cho hộ ông thì bạn phải yêu cầu toàn bộ nhân khẩu trên 18 tuổi, nhập khẩu tại thời điểm cấp và trước khi cấp gcn qsd đất ký hồ sơ thế chấp. Xin chào

    Mình bổ sung thêm tí : Hum trước vừa gặp trường hợp ntn ... nếu GCN QSDĐ ghi là " hộ ông" thì được hiểu là vợ-chồng chủ hộ( cả 2 đang còn sống) kí là được, còn nếu 1 trong 2 đã chết thì ms cần phải có chữ kí của tất cả thành viên trong hộ. Bởi vì : Từ " hộ ông" được cho là tất cả các thành viên có tên trong sổ hộ khẩu, tuy nhiên có những người thuộc hàng thừa kế nhưng có thể lại ko có tên trong sổ HK như : con cái đã tách hộ, hoặc con cháu, cô dì chú bác ...cũng có thể có tên trong SHK, vì vậy nếu hiểu theo từ " hộ ông" là những ng có tên trong SHK thì sẽ bỏ sót người thừa kế hợp pháp như đã nêu... Vì thế nếu 2 vợ-chồng còn sống thì chỉ cần 2 ng kí là đủ pháp lí của " hộ ông"
    Còn trường hợp 1 trong 2 đã chết thì như các bạn nói, sẽ phức tạp hơn, cần biên bản họp gia đình+chữ kí các thành viên... (nói chung hơi lằng nhằng, nếu ko cần thiết lắm thì next đi để còn chạy chỉ tiêu:)))
    Vài ý kiến đóng góp,mong đc chỉ giáo!

  2. Mr_bank

    Thành viên từ 2012

    #25 ·

    Tùy chọn cho trả lời #25

    Với Giấy chứng nhận QSD đất có ghi "Hộ ông/bà" thì các thành viên trong gia đình đều phải ký hết (trừ những trường hợp chưa đến tuổi làm CMND, những thành viên mất năng lực hành vi dân sự - và phải có người đại diện pháp luật hợp pháp)8->

  3. thaonh

    Thành viên từ 2012

    #26 ·

    Tùy chọn cho trả lời #26

    Đi công chứng vài lần là quen ấy mà.

    Vấn đề pháp lý của tài sản thì các comment trước đã giải thích rồi, mình không nhắc lại. Mình chỉ giải thích trường hợp một số ngân hàng vẫn cho cả 2 vợ chồng ký HĐTC trong trường hợp tài sản riêng:

    • Để ràng buộc trách nhiệm của vợ/chồng trong việc xử lý tài sản chứ về mặt thủ tục công chứng và giao dịch đảm bảo là không bắt buộc.
    • HĐTC trong trường hợp này vẫn có hiệu lực nhưng phần lời chứng của Công chứng viên thay vì chỉ có "Bên thế chấp" như trên HĐTC thì sẽ sửa lại là "Bên thế chấp" và "Bên chứng kiến".
    • Nếu HĐTC là tài sản riêng của vợ/chồng thì Công chứng viên vẫn yêu cầu Bên thế chấp phải viết Cam kết tài sản riêng và có đóng dấu của Phòng công chứng (trường hợp tài sản từ mua bán, chuyển nhượng), đối với tài sản nhận tặng cho thì không cần.

    Tuy nhiên, tùy mỗi Phòng công chứng mà một số điểm sẽ khác 1 chút nhưng cơ bản thường là sẽ phát sinh như trên.

  4. Dinh_Cao_C_ng

    Thành viên từ 2015

    #28 ·

    Tùy chọn cho trả lời #28

    Cái này mình nghĩ nếu ông bố cho và chuyển quyền sở hữu trước khi kết hôn thì ts đó là ts riêng của chồng, còn sau khi kết hôn mà không có giấy tờ chứng minh quyền thừa kế thì ts đó sẻ là tài sản chung của 2 vợ chồng.
    Hóng các cao nhân vào chỉ giáo.

  5. D_c_HCE

    Thành viên từ 2016

    #29 ·

    Tùy chọn cho trả lời #29

    huybinh111 viết:

    Anh chị cho em hỏi, giả sử mối quan hệ v-c không được tốt, các giấy tờ chứng minh Quyền sở hữu của ông chồng là gì (nếu trước kia, khi cho đất, người cha chỉ nói miệng),

    Hóng cao nhân vào giải quyết trường hợp này hộ em với ạ 😉

  6. Nguy_n_Van_D_i

    Thành viên từ 2014

    #30 ·

    Tùy chọn cho trả lời #30

    Đức_HCE viết:

    Hóng cao nhân vào giải quyết trường hợp này hộ em với ạ 😉

    Nguồn gốc tài sản ghi trên GCN QSDĐ/QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có ghi rõ: Nguồn gốc từ phân chia tài sản của hộ gia đình/nhận thừa kế, tặng cho.....
    Trường hợp nguồn gốc đã như vậy, bạn nào muốn chắc ăn là tài sản nhận thừa kế nhưng ông cha/bà mẹ lúc cho thừa kế chỉ cho theo kiểu để ở mà không được thế chấp/mua bán (nhiều cha mẹ cho mà không tin con cái) thì các bạn nên bắt chủ sở hữu đi trích lục lại văn bản thừa kế/văn bản thỏa thuận (nếu gần đây thì đến phòng công chứng, nếu xa xưa đi đi lục lại ở tàng thư của xã/huyện). Vì nếu cho để ở không cho thế chấp thì lúc cho vay mà có gì người ta nói ngược lại cũng mệt. Chính vì vấn đề này mà đối với tài sản nhận thừa kế, tặng cho công chứng viên sẽ yêu cầu đi trích lục lại văn bản thừa kế.

  7. Nguy_n_Van_D_i

    Thành viên từ 2014

    #31 ·

    Tùy chọn cho trả lời #31

    longkhoihvtc viết:

    Mình bổ sung thêm tí : Hum trước vừa gặp trường hợp ntn ... nếu GCN QSDĐ ghi là " hộ ông" thì được hiểu là vợ-chồng chủ hộ( cả 2 đang còn sống) kí là được, còn nếu 1 trong 2 đã chết thì ms cần phải có chữ kí của tất cả thành viên trong hộ. Bởi vì : Từ " hộ ông" được cho là tất cả các thành viên có tên trong sổ hộ khẩu, tuy nhiên có những người thuộc hàng thừa kế nhưng có thể lại ko có tên trong sổ HK như : con cái đã tách hộ, hoặc con cháu, cô dì chú bác ...cũng có thể có tên trong SHK, vì vậy nếu hiểu theo từ " hộ ông" là những ng có tên trong SHK thì sẽ bỏ sót người thừa kế hợp pháp như đã nêu... Vì thế nếu 2 vợ-chồng còn sống thì chỉ cần 2 ng kí là đủ pháp lí của " hộ ông"
    Còn trường hợp 1 trong 2 đã chết thì như các bạn nói, sẽ phức tạp hơn, cần biên bản họp gia đình+chữ kí các thành viên... (nói chung hơi lằng nhằng, nếu ko cần thiết lắm thì next đi để còn chạy chỉ tiêu:)))
    Vài ý kiến đóng góp,mong đc chỉ giáo!

    Cách trình bày hiện nay như thế này:
    Bên thế chấp: Hộ ông Nguyễn Văn A gồm các thành viên:

    1. Ông Nguyễn Văn A. Sinh:
      CMND:
      Địa chỉ:
    2. Bà Nguyễn Thị B. Sinh:
      CMND:
      Địa chỉ:
      3.4. ....(liệt kê toàn bộ các thành viên có tên trong hộ khẩu hộ ông Nguyễn Văn A thời điểm cấp GCN QSDĐ theo trích lục hộ khẩu nếu hộ khẩu hiện tại không khớp với hộ khẩu thời điểm cấp GCN)
      Giả sử trong các thành viên 3, 4 có cá nhân còn nhỏ tuổi thì (do ông nguyên văn a giám hộ theo văn bản ....). Khi đi công chứng thì văn phòng công chứng sẽ làm 1 cái văn bản và tự điền số ngày vô chỗ ... đó
  8. dovanmanh

    Thành viên từ 2015

    #32 ·

    Tùy chọn cho trả lời #32

    somebody_to_love viết:

    Bạn trả lời khá chuẩn rồi. Mình bổ sung thêm 1 ý nữa:
    Theo luật hôn nhân và gia đình thì sau khi kết hôn, vợ/chồng vẫn có quyền sở hữu tài sản riêng, vì vậy cần xem xét rõ nguồn gốc hình thành của Quyền sử dụng đất và thỏa thuận riêng của vợ/chồng ông X khi cấp Quyền sử dụng đất. VD: QSDĐ được hình thành sau thời điểm đăng ký kết hôn nhưng là do bố mẹ ông X cho tặng riêng ông X thì QSDĐ này vẫn thuộc sở hữu của ông X và chỉ có mình ông X ký vào bên thế chấp trong HĐTC

    Còn vấn đề những người trên 16 tuổi cùng đi ký HĐ thế chấp chỉ áp dụng đối với TH QSDĐ cấp cho Hộ gia đình (có ghi rõ số hộ khẩu). Những người có tên trong sổ hộ khẩu tại thời điểm cấp QSDĐ mà hiện tại trên 16 tuổi thì sẽ phải ký vào HĐ thế chấp.

    Những người trên 16 tuổi cho ký bản cam kết hoặc ủy quyền là được thôi b

Người làm ngân hàng đã xác thực qua email công việc.

Dấu tích xanh là gì

Người làm ngân hàng đã được U&Bank xác minh.

Dấu tích xanh là gì

Chuyên gia do U&Bank mời, đã xác minh chính chủ.

Dấu tích xanh là gì