daibang168Thành viên từ 2011

Khối Nguồn vốn của một ngân hàng thương mại làm những gì ?

Trả lời (144)

  1. viethungkieu

    Thành viên từ 2012

    #81 ·

    Tùy chọn cho trả lời #81

    prosper89 viết:

    Dear mọi người. Em đang ôn thi vị trí chuyên viên quản lý vốn nội bộ của LPB. Anh daibang168 và viethungkieu tư vấn giúp e ôn thi viết nghiệp vụ đối với vị trí này được k ạ. Thanks các anh.

    Đối với vị trí quản lý vốn nội bộ này, bạn tham khảo

    1. Cơ chế quản lý vốn tập trung của BIDV và Eximbank, các ngân hàng bây giờ đều theo mô hình quản lý vốn tập trung này. (có link mediafire, down ko mất tín dụng)
      https://ub.com.vn/t/share-bai-viet-ve-ftp-tai-eximbank-va-bidv/257645
    2. Bạn sang box Liên Việt Tuyển dụng https://ub.com.vn/t/thi-tuyen-phong-van-vao-lienvietpostbank-ngan-hang-buu-dien-lien-viet/240373

    Bạn sẽ thấy có nhiều comment tư vấn của chị Quỳnh Hồng (một người của LPB, mình ko tiện nêu chức danh), chị ấy có giải đáp một số thắc mắc của các bạn ứng viên.

  2. huethinh

    Thành viên từ 2012

    #83 ·

    Tùy chọn cho trả lời #83

    ghost_hieu viết:

    óanh dấu nhé, topic hay quá ^^

    Anh daibang168 ơi. ANh cho em hỏi quy trình đầu tư trái phiếu như thế nào anh? Tức nếu mình là một chuyên viên đầu tư trái phiếu doanh nghiệp? Có pải là mình sẽ tiến hành bỏ thầu với tp doanh nghiệp ko anh?

  3. daibang168

    Thành viên từ 2011

    #85 ·

    Tùy chọn cho trả lời #85

    Hi huethinh, về vấn đề bạn hỏi mình trả lời như sau:
    Quy trình đầu tư trái phiếu cũng tương đối dài dòng. Trước tiên bạn cần hiểu rõ các quy định về TPDN: hiện tại cần đọc nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu (phát hành riêng lẻ),nếu phát hành ra công chúng thì theo Luật chứng khoán. Nghị định 90/2011/NĐ-CP có văn bản hướng dẫn là Thông tư 211/2012/TT-bộ tài chính hướng dẫn Nghị định 90/2011/NĐ-CP về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Đối với các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài còn chịu sự điều chỉnh của Thông tư số 28/2011/TT-NHNN ngày 01/09/2011 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc quy định việc tổ chức tín dụng; chi nhánh ngân hàng nước ngoài mua trái phiếu doanh nghiệp.
    Về quy trình, đối với các TCTD có thể tham khảo như sau:

    1. Nhân viên ngân hàng tìm kiếm các đơn vị phát hành trái phiếu, hoặc có tin các đơn vị phát hành, căn cứ vào nhu cầu, kế hoạch của ngân hàng, nhân viên liên hệ với họ để có các thông tin về trái phiếu: tổ chức phát hành, khối lượng phát hành, ngày phát hành, kỳ hạn, lãi suất dự kiến,mục đích phát hành.....(tất cả thông tin về trái phiếu cần phải có, trong đó doanh nghiệp phát hành phải tuân thủ nghị định 90/2011/NĐ_CP- đủ điều kiện để phát hành, và tuân thủ thông tư 28/2011/TT-NHNN. Dựa trên đánh giá bước đầu, nếu phù hợp với định hướng, chính sách của ngân hàng thì nhân viên thực hiện bước tiếp theo.
    2. Trên cơ sở các thông tin đã có, nhân viên ngân hàng/đơn vị kinh doanh lập tờ trình đầu tư và lập báo cáo phân tích, đánh giá trái phiếu và tổ chức phát hành trái phiếu. Tờ trình và báo cáo phân tích, đánh giá được chuyển cho các bộ phận liên quan như: tái thẩm định, quản lý rủi ro, quản lý tín dụng, pháp chế để tiến hành thẩm định/cho ý kiến, kiểm tra rủi ro và kiểm tra các hạn mức. Các đơn vị liên quan lập tờ trình và cho ý kiến độc lập với đề xuất của đơn vị trình. Nhân viên trình sau khi tập hợp đủ các ý kiến của các đơn vị liên quan sẽ gửi lên hội đồng tín dụng/cấp có thẩm quyền đề xuất đầu đầu tư và ý kiến của các đơn vị độc lập.
    3. Cấp thẩm quyền căn cứ vào tờ trình, báo cáo phân tích và các báo cáo, tờ trình của các đơn vị liên quan sẽ ra quyết định đầu tư hay không?Nếu không đồng ý thì dừng lại, nếu đồng ý chuyển bước tiếp theo.
    4. Nhân viên/đơn vị kinh doanh, căn cứ vào phê duyệt của cấp có thẩm quyền, tiến hành thương thảo với khách hàng các điều kiện điều khoản trái phiếu, các hợp đồng (lưu ý, giai đoạn này có pháp chế vào làm việc cùng để đảm bảo tính pháp lý). Sau khi các bên thống nhất, tiến hành ký kết hợp đồng và giải ngân. Các thủ tục tương đối nhiều, nếu có TSĐB cần phong tỏa, cầm cố, thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm, lưu giữ hồ sơ. Sau khi giải ngân xong, phải theo dõi mục đích sử dụng vốn, theo dõi các điều khoản điều kiện trái phiếu, theo dõi tình hình doanh nghiệp, tình hình trả lãi...... và có báo cáo đánh giá định kỳ về doanh nghiệp phát hành.
      Trường hợp phát hành không tuân thủ cam kết, yêu cầu doanh nghiệp thực hiện mua lại, hoặc tổ chức bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thanh toán - nếu doanh nghiệp phát hành ko thanh toán được, hoặc xử lý tài sản đảm bảo, kiện cáo.....
      Trường hợp nếu khách hàng tuân thủ các cam kết thì vẫn cần đánh giá thường xuyên, phát hiện các rủi ro có thể xảy ra để xử lý, khuyến nghị, có thể đề xuất bán trái phiếu trước khi chúng đáo hạn để hạn chế rủi ro.
      Hoạt động theo dõi sau đầu tư cũng được tiến hành thường xuyên để hạn chế rủi ro cho ngân hàng.
      Nếu cần một quy trình cụ thẻ có thể gửi email cho mình, mình gửi bạn một số quy trình của các bank.
      Thông thường để làm một giao dịch mua trái phiếu cần khoảng 1 tháng, có thể dài hơn vì tính phức tạp, tính pháp lý, yếu tố nội bộ, và mức độ rủi ro của trái phiếu (số tiền mua trái phiếu thường lớn, món bình thường cũng 50 tỷ trở lên mới nên làm, ngoài ra, đã đầu tư thì thường một món khoảng 100-200 tỷ là bình thường).
      Lưu ý hồ sơ, tài liệu về trái phiếu rất nhiều, cần kiểm tra đầy đủ, kỹ càng các điều kiện doanh nghiệp được phát hành, các điều khoản điều kiện trái phiếu, các hồ sơ pháp lý doanh nghiệp, hồ sơ phát hành trái phiếu,....
  4. namth

    Thành viên từ 2013

    #87 ·

    Tùy chọn cho trả lời #87

    anh daibang168 hiểu biết sâu về Treasury quá, chắc a làm treasury lâu năm rồi ạh ? Anh cho em hỏi là phòng FX của treasury thì làm những gì ạh ? Nếu chỉ trade USD/VND thì P/L đâu đáng là bao so với chỉ tiêu hàng năm của họ a nhỉ ?

  5. oldfriend

    Thành viên từ 2013

    #88 ·

    Tùy chọn cho trả lời #88

    namth viết:

    anh daibang168 hiểu biết sâu về Treasury quá, chắc a làm treasury lâu năm rồi ạh ? Anh cho em hỏi là phòng FX của treasury thì làm những gì ạh ? Nếu chỉ trade USD/VND thì P/L đâu đáng là bao so với chỉ tiêu hàng năm của họ a nhỉ ?

    thời hoàng kim thì FX là nguồn thu lớn, có khi còn hơn cả tín dụng của ngân hàng đấy 🙂

  6. nhoc2529

    Thành viên từ 2011

    #93 ·

    Tùy chọn cho trả lời #93

    daibang168 viết:

    Hi, phuongbav, bộ phận hỗ trợ sau giao dịch có thể gọi tên khác như BO (back office), khối vận hành,…tùy thuộc vào từng ngân hàng. Mình thì có thói quan gọi là BO. BO có thể gồm BO tại Khối Nguồn vốn, BO tại kế toán, BO tại trung tâm thanh toán. Tương ứng BO tại các khối đó, người ta có thể chia thành BO FX, BO MM, BO chứng khoán. Tùy thuộc vào quy mô và mô hình của từng bank.

    • BO Nguồn vốn: thực hiện các công việc như: lập phiếu giao dịch (sau khi dealer thực hiện giao dịch), chuyển phiếu giao dịch cho lãnh đạo Khối Nguồn vốn ký duyệt, Khối QLRR-kiểm soát tính tuân thủ, Khối Kế toán- để hạch toán, Khối Thanh toán - để thực hiện điện xác nhận và chuyển tiền (nếu có), lập hợp đồng (nếu có), theo dõi và hoàn thành các công việc đã cam kết cho tới khi giao dịch hoàn tất, theo dõi và đối chiếu thông tin với các đơn vị liên quan và với khách hàng, lưu trữ chứng từ và lập báo cáo theo quy định.
    • BO kế toán: nhập dữ liệu vào hệ thống core, thực hiện hạch toán (khi giao dịch, khi hiệu lực, trong thời gian hiệu lực và khi tất toán) và lưu giữ chứng từ, thực hiện báo cáo và cung cấp số liệu khi có yêu cầu.
    • BO trung tâm thanh toán: thực hiện các điện xác nhận đi và nhận điện xác nhận đến (nếu có); thực hiện các điện chuyển đi và nhận các điện chuyển tiền đến (nếu có), lưu giữ chứng từ và báo cáo theo quy định. Đối với các điện, bạn cần hiểu rõ các điện swift như MT 320 (dùng trong MM, Bond), MT 300 (dùng trong FX), MT 202 (chuyển tiền), MT 910 (báo có), ngoài ra các swift MT khác. Để hiểu về các điện SWIFT bạn có thể vào google gõ "SWIFT MT" là ra.

    Tùy từng bank, công việc BO tại nguồn vốn và BO kế toán có thể phân bổ khác nhau về phân công lập hợp đồng, nhập dữ liệu (các giao dịch) vào hệ thống core nhưng đó đều là công việc của BO.

    Và, để làm được BO thì bạn phải hiểu nghiệp vụ mới đọc được, theo dõi và làm được, không cần sâu, chỉ cần biết cơ bản để hiểu và làm. Cái quan trọng phân biệt Dealer với BO chính là: dealer là người tìm kiếm khách hàng, tìm kiếm thông tin, phân tích, báo cáo, quyết định thực hiện hoặc đề xuất thực hiện giao dịch và quyết đính sự thành công của giao dịch, hiệu quả lãi/lỗ của giao dịch (có lợi hay không có lợi), còn BO là người thực hiện các thủ tục (giấy tờ, chữ ký….) sau khi giao dịch được xác nhận (không có quyền quyết định giao dịch có thực hiện hay không được thực hiện ) để hoàn tất giao dịch và không làm ảnh hưởng tới hiệu quả lãi/lỗ của giao dịch, không có quyền sửa đổi số liệu (nếu phát hiện sai sót thì báo cho dealer, lãnh đạo).

    Cám ơn Cậu về bài viết rất hữu ích nha. Mình rất thích nghiệp vụ phòng nguồn vốn... Hi vọng từ bài viết này Mình sẽ biết chọn lựa vụ trí phù hợp nhất với khả năng . :)>-

  7. duonganh91

    Thành viên từ 2013

    #95 ·

    Tùy chọn cho trả lời #95

    Em chào anh ạ, Em đang làm một đề tài liên quan tới khối nguồn vốn trong ngân hàng, Anh có thể cho em biết mối liên hệ giữa các bộ phận trong khối nguồn vốn trong ngân hàng được không ạ, Em cảm ơn a rất nhiều ạ !

  8. vandhkt

    Thành viên từ 2012

    #96 ·

    Tùy chọn cho trả lời #96

    Anh daibang168 ơi, cho em hỏi đánh giá các định chế tài chính để đề xuất cấp hạn mức thì dựa trên những yêu tố nào,có gì khác với khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp ah?Anh có thể nói rõ hơn về vấn đề này được không ah?

  9. nhoc2529

    Thành viên từ 2011

    #98 ·

    Tùy chọn cho trả lời #98

    Cám ơn Cậu về bái viết vô cùng hữu ích này nhé. Mình đang cố gắng thi vào phòng NV, qua bài viết của Cậu, Mình đã hình dung ra rõ ràng hơn rất nhiều về công việc của 1 NV NV.:)>-

    daibang168 viết:

    Ở trường, bạn được giảng dạy rất nhiều về một mớ lý thuyết nhưng bạn có hình dung Khối/Phòng nào sẽ làm công việc j về cái mà bạn được dạy. Ví dụ, hoạt động tín dụng được làm ở đâu, quy trình thực tế như thế nào?hoạt động kinh doanh ngoại tệ do Khối/Phòng, Chi nhánh nào thực hiện và nó thực hiện như thế nào, có sự tham gia của những phòng ban nào? Như bài viết trước, một số kinh nghiệm khi bắt đầu tại một nơi làm việc mới tôi có nói các bạn nên xem xét mô hình tổ chức và chức năng các phòng ban. Điều này sẽ giúp bạn hiểu rõ mối liên hệ giữa các phòng ban và phòng ban nào làm cái j. Trong bài viết này, đơn giản tôi muốn chia sẻ cùng các bạn về hoạt động Khối Nguồn vốn (Treasury) tại một ngân hàng bình thường.

    Do phải đảm bảo sử dụng vốn an toàn (như thanh khoản hệ thống, rủi ro tập trung xét trên góc độ toàn hàng...) đồng thời đảm bảo đạt hiệu quả, các ngân hàng thường quản lý vốn tập trung để có cái nhìn view về toàn hệ thống, điều này cũng tạo nên một đặc quyền riêng cho Khối Nguồn vốn, nói một cách khác, nó sinh ra đã có những quyền lực tương đối lớn. Khối Nguồn vốn thuộc Hội sở chính của ngân hàng, chức năng chính của nó gồm:

    • Quản lý thanh khoản trong toàn hệ thống (bao gồm cả điều hòa, điều chuyển vốn nội bộ);

    • Quản lý và kinh doanh vốn;

    • Quản lý và kinh doanh ngoại tệ.

    • Ngoài ra, một số ngân hàng, Khối Nguồn vốn có thể bao gồm chức năng của ALM.

      Về cơ cấu tổ chức của Khối Nguồn vốn, thường gồm:

    1. Bộ phận MM (Money Market): Chỉ hội sở mới được kinh doanh trên liên ngân hàng (các chi nhánh/PGD không được thực hiện), Khối Nguồn vốn được nhận tiền gửi TCKT như bình thường, bộ phận MM làm các công việc sau:
    • Nghiệp vụ MM (kinhh doanh tiền tệ - gồm nghiệp vụ nhận tiền gửi/đi vay; gửi tiền/cho vay): các TCTD thường vay vốn lẫn nhau trên thị trường Interbank (thị trường 2) với một số mục đích chính như: đảm bảo thanh khoản; kinh doanh chênh lệch lãi suất (thường thì vay ngắn hạn và cho vay dài hạn); ....Một lưu ý là các khoản trên Interbank mang tính chất ngắn hạn (chủ yếu ở các kỳ hạn như O/N; 1W; 2W; 1M; 2M; 3M), các kỳ hạn dài hơn thường rất ít.
    • Nghiệp vụ với NHNN: OMO, vay tái cấp vốn, vay qua đêm....
    • Nghiệp vụ điều chuyển tiền giữa các tài khoản NOSTRO.
    1. Bộ phận kinh doanh ngoại tệ và hàng hóa, phái sinh: chỉ hội sở (Khối Nguồn vốn) mới được thực hiện, chi nhánh/PGD chỉ được thực hiện với khách hàng (không được thực hiện với các TCTD khác), gồm:
    • Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
    • Thực hiện nghiệp vụ kinh doanh hàng hóa
    • Thực hiện nghiệp vụ phái sinh
    1. Bộ phận Giấy tờ có giá
    • Thực hiện kinh doanh giấy tờ có giá (trong đó chủ yếu là trái phiếu)
    • Đầu mối phát hành trái phiếu của ngân hàng mình và hỗ trợ các bộ phận khác trong phát hành giấy tờ có giá.....
    1. Bộ phận quản lý vốn: quản lý hệ thống vốn nội bộ (như dữ trự bắt buộc của chi nhánh/phòng giao dịch, báo nguồn,...) và quản lý ngoại hối chi nhánh/phòng giao dịch, ngoài ra có thể thêm về chức năng lãi suất điều chuyển vốn nội bộ - lãi suất mua bán vốn giữa hội sở và chi nhánh (hiện các ngân hàng có xu hướng tách khối Nguồn vốn chức năng này vì nó thể dẫn tới sự bất công trong phân chia lợi nhuận giữa Khối Nguồn vốn và Chi nhánh);
    2. Bộ phận Sale
    3. Bộ phận hỗ trợ ALCO (có thể không đặt ở đây):
    4. Bộ phận quan hệ với khách hàng định chế (FI) (Có thể không đặt ở Khối nguồn vốn)

    Đối với mỗi bộ phận trên các bạn cần nắm rõ:

    • Các quy định của Pháp Luật Việt nam, các quy định nội bộ
    • Định hướng
    • Phương tiện dùng trong giao dịch: Các ngân hàng thường giao dịch qua máy Reuter Dealing (để confirm), chat Reuter Messager., điện thoại. Ngoài ra, có thể họ dùng chat Skype, Yahoo...để trao đổi thông tin....
    • Mục đích thực hiện giao dịch (như thanh khoản, lợi nhuận, trung gian.....)
    • Phân cấp, ủy quyền
    • Sản phẩm, dịch vụ (thực hiện những sản phẩm, dịch vụ nào, nó được mô tả ra sao-từ khái niệm, rủi ro, lợi ích, hạch toán...)
    • Nhân sự của bộ phận
    • Cơ chế trao đổi cập nhật thông tin trong nội bộ Khối
    • Công việc hàng ngày
    • Hệ thống báo cáo
    • Các đơn vị liên quan: Khối Nguồn vốn, Khối Quản lý rủi ro (thị trường), Khối Kế toán, Khối Thẩm định (đối với trái phiếu); Khối Thanh toán.

    Trên đây là sơ lược các nội dung nghiệp vụ Khối Nguồn vốn của một ngân hàng thực hiện. Khối Nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động Ngân hàng, và đóng góp lớn vào lợi nhuận của ngân hàng. Nhiều ngân hàng, kinh doanh của Khối Nguồn vốn chiếm thu nhập lên tới trên 70% lợi nhuận toàn hệ thống (ở đây không kể chi phí vốn chủ sở hữu, Khối Nguồn vốn thực hiện kinh doanh vốn chủ sở hữu). Tuy nhiên, lợi ích của Khối Nguồn vốn một phần quan trọng là do vị trí của nó khi nó sinh ra. Vì vậy, một ngân hàng nếu xác định lãi suất mua-bán vốn nội bộ theo hướng có lợi cho Khối Nguồn vốn có thể dẫn tới tác hại đối với sự phát triển của chi nhánh/PGD, do các chi nhánh/PGD không quan tâm tới phát triển khách hàng (cá nhân, tổ chức kinh tế)- khách hàng quyết định sự tồn tại, mở rộng và phát triển của ngân hàng. bởi họ vất vả tìm kiếm khách hàng về nhưng lợi ích lại không được phân chia công bằng, thậm chí thấp hơn Khối Nguồn vốn-đơn vị không trực tiếp tìm kiếm khách hàng nhưng lại được hưởng lợi nhuận cao hơn. Mặc dù vậy, một số trường hợp/thời kỳ để ngăn chặn vốn từ thị trường 2 sang thị trường 1, ngân hàng cần điều chỉnh chính sách lãi suất nội bộ cho phù hợp, tránh thiệt hại cho ngân hàng.
    Tương tự, nếu một ngân hàng xác định lãi suất nội bộ nếu có lợi cho chi nhánh/pgd sẽ dẫn tới giảm lợi nhuận rất nhiều cho ngân hàng và thiệt hại nặng cho Khối Nguồn vốn. Bởi khi đó, chi nhánh chỉ việc huy động vốn cao và gửi về nguồn vốn sẽ có lợi nhuận lớn mà an toán, trong khi đó nguồn vốn chỉ có cách đẩy thị trường 2 với lãi suất thấp khiến cho tổng thể ngân hàng bị lỗ, chi nhánh có lãi do cách tính lãi nội bộ. Ví dụ đơn giản: chi nhánh A huy động 100 tỷ đồng, lãi suất 10% (giả sử trần lãi suất hoặc lãi suất thị trường 9%) và gửi về hội sở với lãi suất 13%/năm. Do đó, chi nhánh này cứ tích cực huy động vốn và không cần đẩy mạnh tín dụng, vẫn có con số lợi nhuận tới 3% và kê cao ngủ kỹ. Trong khi đó, nếu đem cho vay tín dụng, thì với lãi suất đầu vào 13% (bằng lãi suất nội bộ) và cho vay ra với lãi suất 16%-rất khó cho vay, được hưởng chênh lệch 3% nhưng nếu trừ đi chi phí trích lập dự phòng rủi ro chung 0,75% thì lợi ích biên còn 2,25% nhưng suốt ngày phải lo lắng về tình hình nợ quá hạn, nợ xấu, theo dõi khách hàng......Vì vậy, lúc này, các chi nhánh/pgd sẽ thiên về hướng huy động vốn thật nhiều mà ít sử dụng vốn, dẫn tới việc toàn hệ thống huy động tăng rất mạnh, dư nợ tín dụng giảm, phải cho vay ra interbank, lãi suất đầu vào khoảng 10% trong khi đầu ra khoảng 6% (lãi suất interbank), tức toàn hệ thống lỗ 4% nhưng do chính sách lãi nội bộ thì chi nhánh vẫn có lãi khoảng 3% vì lãi nội bộ tới 13%, còn Khối nguồn vốn sẽ bị lỗ 7% (bù cho lãi của chi nhánh 3% và gưi interbank lỗ 4%). Điều này sẽ gây bất lợi cho Khối Nguồn vốn và có thể gây tác động không tốt. Tình trạng này nếu kéo dài, ngân hàng sẽ bị lỗ ngày càng nhiều, đến một lúc nào đó có thể phá sản.
    Như vậy, chính sách lãi nội bộ là con dao hai lưỡi, nghiêng về bên nào đều dẫn tới thiệt hại cho ngân hàng. Ngân hàng cần có chính sách lãi suất nội bộ phù hợp để mở rộng tín dụng hay mở rộng huy động vốn, và đảm bảo cân bằng trên toàn hệ thống, vừa đảm bảo thanh khoản, vừa đảm bảo sinh lời.

Xem thêm 20 trả lời

Người làm ngân hàng đã xác thực qua email công việc.

Dấu tích xanh là gì

Người làm ngân hàng đã được U&Bank xác minh.

Dấu tích xanh là gì

Chuyên gia do U&Bank mời, đã xác minh chính chủ.

Dấu tích xanh là gì