vohoangchuong2006Thành viên từ 2011

Tùy chọn cho bài đăng

Vướng mắc trong việc phân tích HTK của các Công ty TM Dược Phẩm

Các anh chị ơi, giúp em cái này với:

Hiện tại em đang làm tờ trình cho một Công ty TM Dược Phẩm. Mọi thứ sẽ suôn sẻ nếu như HTK của Công ty này không có quá nhiều mặt hàng, hàng trăm hàng nghìn mặt hàng về thuốc. Trong tờ trình của NH em lại yêu cầu phải liệt kê các loại hàng hóa tồn kho, Đầu kỳ, Xuất nhập trong kỳ, cuối kỳ và Giá HTK bình quân.

Trong trường hợp này em chỉ có thể đánh giá chung chung HTK qua các chỉ số Vòng quay, HTK/TTS, HTK/Giá vốn.... Nhưng nếu chỉ như vậy thôi thì sẽ không thấy được biến động HTK của Công ty, các mặt hàng thay đổi thế nào, mặt hàng nào bán chậm, mặt hàng nào bán nhanh....

Các anh chị chỉ giúp em các giải quyết vấn đề này nhé. Phân tích theo kiểu nào thì ổn thỏa đây?

Thanks các anh chị.

Thảo luận

Nội dung do thành viên đăng, mang tính tham khảo.

Trả lời (13)

Xếp theo thứ tự đăng.

  1. hungviet

    Founder

    #2 ·

    Tùy chọn cho trả lời #2

    vohoangchuong2006 viết:

    Các anh chị ơi, giúp em cái này với:

    Hiện tại em đang làm tờ trình cho một Công ty TM Dược Phẩm. Mọi thứ sẽ suôn sẻ nếu như HTK của Công ty này không có quá nhiều mặt hàng, hàng trăm hàng nghìn mặt hàng về thuốc. Trong tờ trình của NH em lại yêu cầu phải liệt kê các loại hàng hóa tồn kho, Đầu kỳ, Xuất nhập trong kỳ, cuối kỳ và Giá HTK bình quân.

    Trong trường hợp này em chỉ có thể đánh giá chung chung HTK qua các chỉ số Vòng quay, HTK/TTS, HTK/Giá vốn.... Nhưng nếu chỉ như vậy thôi thì sẽ không thấy được biến động HTK của Công ty, các mặt hàng thay đổi thế nào, mặt hàng nào bán chậm, mặt hàng nào bán nhanh....

    Các anh chị chỉ giúp em các giải quyết vấn đề này nhé. Phân tích theo kiểu nào thì ổn thỏa đây?

    Thanks các anh chị.

    Theo anh thì thế này đi. Em cứ để DN lập bảng kê hàng tồn kho đi (vì cái này đằng nào DN họ cũng làm); thẩm định bằng phương pháp phỏng vấn (kiểm chứng qua chứng từ như HĐ, hóa đơn đầu vào đầu ra, sổ theo dõi kho....) xem mặt hàng nào là mặt hàng bán chạy nhất, mặt hàng nào là mặt hàng bán kém chạy nhất. Nguyên nhân? Kế hoạch sắp tới của DN là gì? tập trung vào mặt hàng nào (Lý do);

    Chú ý: Đối với DN có nhiều mặt hàng như thế này, việc phân tích từng mặt hàng là không thể, nên chỉ nên tập trung vào một số mũi nhọn của DN là được. Nếu được thì e có thể phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố "mũi nhọn" đến tổng thể doanh thu của DN, sau đó hãy kết luận.

  2. vohoangchuong2006

    Thành viên từ 2011

    #3 ·

    Tùy chọn cho trả lời #3

    Em cám ơn Anh Hưng giúp đỡ.

    E còn 1 câu hỏi nữa liên quan đến Phân tích Nợ Ngắn hạn và Dài hạn.

    • Thông thường thì Nợ dài hạn đến từ các TCTD, người cung cấp ít khi nào cho phép DN nợ trên 1 năm.
    • Xét về Nợ ngắn hạn, để đánh giá đúng khả năng thanh toán của DN, cần phải liên hệ đến vòng quay khoản phải trả qua các năm. Tuy nhiên, em thắc mắc chỗ này: Nợ ngắn hạn bao gồm: TCTD + Người cung cấp. Nếu tính ra vòng quay = Giá vốn/KP Trả BQ thì nó bao gồm luôn Nợ ngắn hạn của các TCTD.

    Giả sử vòng quay giảm --> kỳ phải thanh toán tăng --> DN có uy tín, được bạn hàng cho phép gia hạn nợ. Tuy nhiên nó có chính xác không khi trong những con số này bao gồm nợ của TCTD chứ không chỉ có duy nhất nợ nhà cung cấp.

    Em muốn hỏi là phân tích Nợ ngắn hạn này có cần phải tách riêng cho TCTD và người cung cấp ko. Hay là cứ gộp chung để tính ra các tỷ số.

    Cám ơn anh.

  3. hungviet

    Founder

    #4 ·

    Tùy chọn cho trả lời #4

    vohoangchuong2006 viết:

    Em cám ơn Anh Hưng giúp đỡ.

    E còn 1 câu hỏi nữa liên quan đến Phân tích Nợ Ngắn hạn và Dài hạn.

    • Thông thường thì Nợ dài hạn đến từ các TCTD, người cung cấp ít khi nào cho phép DN nợ trên 1 năm.
    • Xét về Nợ ngắn hạn, để đánh giá đúng khả năng thanh toán của DN, cần phải liên hệ đến vòng quay khoản phải trả qua các năm. Tuy nhiên, em thắc mắc chỗ này: Nợ ngắn hạn bao gồm: TCTD + Người cung cấp. Nếu tính ra vòng quay = Giá vốn/KP Trả BQ thì nó bao gồm luôn Nợ ngắn hạn của các TCTD.

    Giả sử vòng quay giảm --> kỳ phải thanh toán tăng --> DN có uy tín, được bạn hàng cho phép gia hạn nợ. Tuy nhiên nó có chính xác không khi trong những con số này bao gồm nợ của TCTD chứ không chỉ có duy nhất nợ nhà cung cấp.

    Em muốn hỏi là phân tích Nợ ngắn hạn này có cần phải tách riêng cho TCTD và người cung cấp ko. Hay là cứ gộp chung để tính ra các tỷ số.

    Cám ơn anh.

    Đứng dưới góc độ quản lý thì anh thích em tách ra hơn. Việc tách Nợ ngắn hạn sẽ làm rõ được cả về số lượng và bản chất nguồn gốc của khoản nợ; đồng thời nêu bật được các yếu tố định tính có liên quan đến nợ ngắn hạn như: Uy tín với bạn hàng, Uy tín với Ngân hàng ....

    Ngoài ra, như a đã nói ở trên, trong trường hợp có một gói "chủng loại" nếu được e có thể phân tích thêm sự biến động của từng yếu tố đến tổng thể gói "chủng loại" đó từ đó đưa ra kết luận thì sẽ chặt chẽ hơn, dễ hiểu hơn (VD: Giả sử ngân hàng ngừng cho vay ==> biến động các chỉ số; ....)

    Tuy nhiên, e phải hết sức lưu ý khi bóc tách, đảm bảo tính hợp lý của các chỉ số thanh toán nhé.

  4. kemcay2000

    Thành viên từ 2012

    #5 ·

    Tùy chọn cho trả lời #5

    Chỉ số thanh toán thường lấy tài sản ngắn hạn/nợ ngắn hạn: Đây là chỉ số khó phân tích nhất, nói thật...phải làm trong doanh nghiệp mới biết được cách thức thanh toán...còn không thì phải xem xét kỳ 5 năm là chính xác hơn cả (3 năm chưa nói đựơc gì)...còn nếu có bctc từng quý thì còn gì bằng....

  5. nguyencongna

    Thành viên từ 2012

    #6 ·

    Tùy chọn cho trả lời #6

    vohoangchuong2006 viết:

    Em cám ơn Anh Hưng giúp đỡ.

    E còn 1 câu hỏi nữa liên quan đến Phân tích Nợ Ngắn hạn và Dài hạn.

    • Thông thường thì Nợ dài hạn đến từ các TCTD, người cung cấp ít khi nào cho phép DN nợ trên 1 năm.
    • Xét về Nợ ngắn hạn, để đánh giá đúng khả năng thanh toán của DN, cần phải liên hệ đến vòng quay khoản phải trả qua các năm. Tuy nhiên, em thắc mắc chỗ này: Nợ ngắn hạn bao gồm: TCTD + Người cung cấp. Nếu tính ra vòng quay = Giá vốn/KP Trả BQ thì nó bao gồm luôn Nợ ngắn hạn của các TCTD.

    Giả sử vòng quay giảm --> kỳ phải thanh toán tăng --> DN có uy tín, được bạn hàng cho phép gia hạn nợ. Tuy nhiên nó có chính xác không khi trong những con số này bao gồm nợ của TCTD chứ không chỉ có duy nhất nợ nhà cung cấp.

    Em muốn hỏi là phân tích Nợ ngắn hạn này có cần phải tách riêng cho TCTD và người cung cấp ko. Hay là cứ gộp chung để tính ra các tỷ số.

    Cám ơn anh.

    Mình nghĩ thế này:
    Chỉ số vòng quay phải trả bình quân = doanh số mua hàng trong năm /phải trả bình quân
    trong đó doanh số mua hàng trong năm = giá vốn + hàng tồn kho cuối kỳ - hàng tồn kho đầu kỳ (để tính vòng quay phải trả thì ngoài giá vốn còn phải tính đến NVL, công cụ, dụng cụ,... mua về chưa sử dụng)

    Các khoản phải trả KHÔNG bao gồm nợ các TCTD, mà chỉ tính đến phía người bán thôi. Nhìn nhận theo quan điểm của NH thì coi như khoản vay NH cũng là một phần vốn của DN rồi, mềnh chỉ quan tâm đến khả năng chiếm dụng vốn người bán của DN mà thôi. Bơi vậy khi chỉ số vòng quay phải trả giảm -> số ngày phải trả tăng -> DN đang chiếm dụng đc vốn nhiều hơn là chính xác.

  6. hoanglam

    Thành viên từ 2012

    #7 ·

    Tùy chọn cho trả lời #7

    Mình cũng đã làm tờ trình về công ty dược, HTK nên để bên phía cty cung cấp, khi kh cung cấp thì nhiều lắm đó. Ngành dược nhiều công ty độc quyền( về một số loại thuốc) nên các công ty dược thường dữ trữ hàng tồn kho phòng khi giá lên do đó HTK rất nhiều. Thêm vào nữa khoản phải thu của các công ty dược chiếm phần lớn trong BCĐKT, nên bạn cũng cần phải chú ý đến, xem phải thu từ những cty, bv nào? Tương tự đối với khoản phải trả, cty cũng sẽ trả chậm nhà cung cấp hàng. vậy nên bạn nên phân gia nợ các TCTD là bao nhiêu, nợ nhà cung cấp nhiêu?

  7. haith_bidv

    Thành viên từ 2012

    #8 ·

    Tùy chọn cho trả lời #8

    Hàng tồn kho của mỗi công ty có đặc điểm khác nhau, hàng tồn kho sắt thép ít bị suy giảm giá trị, hàng tồn kho dược phẩm bị giới hạn bởi hạn sử dụng... Vì vậy HTK của Công ty dược tăng cao cần phải xem xét đánh giá kỹ là hoàn toàn đúng. Như vậy vấn đề là phải đánh giá thế nào ?
    Báo cáo HTK do khách hàng cung cấp có phải là số liệu chính xác không, đã loại trừ hàng tồn kho hết HSD chưa, hay là công ty báo cáo HTK trên cơ sở Tồn + Nhập - Xuất đơn thuần ?
    Nguyên tắc đánh giá năng lực tài chính, phân tích các chỉ số thì càng chi tiết cáng tốt, tuy nhiên tuỳ theo từng khách hàng và chỉ tiêu cụ thể người phân tích quyết định có tách ra hay không. Quan trọng là đánh giá được đúng bản chất của các con số.
    Vài dòng chia sẻ không biêt đúng hay không !
    Thân

  8. kemcay2000

    Thành viên từ 2012

    #9 ·

    Tùy chọn cho trả lời #9

    vohoangchuong2006 viết:

    Em cám ơn Anh Hưng giúp đỡ.

    E còn 1 câu hỏi nữa liên quan đến Phân tích Nợ Ngắn hạn và Dài hạn.

    • Thông thường thì Nợ dài hạn đến từ các TCTD, người cung cấp ít khi nào cho phép DN nợ trên 1 năm.
    • Xét về Nợ ngắn hạn, để đánh giá đúng khả năng thanh toán của DN, cần phải liên hệ đến vòng quay khoản phải trả qua các năm. Tuy nhiên, em thắc mắc chỗ này: Nợ ngắn hạn bao gồm: TCTD + Người cung cấp. Nếu tính ra vòng quay = Giá vốn/KP Trả BQ thì nó bao gồm luôn Nợ ngắn hạn của các TCTD.

    Giả sử vòng quay giảm --> kỳ phải thanh toán tăng --> DN có uy tín, được bạn hàng cho phép gia hạn nợ. Tuy nhiên nó có chính xác không khi trong những con số này bao gồm nợ của TCTD chứ không chỉ có duy nhất nợ nhà cung cấp.

    Em muốn hỏi là phân tích Nợ ngắn hạn này có cần phải tách riêng cho TCTD và người cung cấp ko. Hay là cứ gộp chung để tính ra các tỷ số.

    Cám ơn anh.

    đọc hướng dẫn phân tích gì kỳ vậy? Vòng quay khoản phải trả thì chỉ lấy giá vốn/khoản phải trả bình quân. Khoản phải trả trên bảng cân đối kế toán làm gì có nợ vay ngắn hạn...

  9. kemcay2000

    Thành viên từ 2012

    #10 ·

    Tùy chọn cho trả lời #10

    nguyencongna viết:

    Mình nghĩ thế này:
    Chỉ số vòng quay phải trả bình quân = doanh số mua hàng trong năm /phải trả bình quân
    trong đó doanh số mua hàng trong năm = giá vốn + hàng tồn kho cuối kỳ - hàng tồn kho đầu kỳ (để tính vòng quay phải trả thì ngoài giá vốn còn phải tính đến NVL, công cụ, dụng cụ,... mua về chưa sử dụng)

    Các khoản phải trả KHÔNG bao gồm nợ các TCTD, mà chỉ tính đến phía người bán thôi. Nhìn nhận theo quan điểm của NH thì coi như khoản vay NH cũng là một phần vốn của DN rồi, mềnh chỉ quan tâm đến khả năng chiếm dụng vốn người bán của DN mà thôi. Bơi vậy khi chỉ số vòng quay phải trả giảm -> số ngày phải trả tăng -> DN đang chiếm dụng đc vốn nhiều hơn là chính xác.

    Bạn này tính chính xác....nhưng thực chất việc phân tích mấy vòng quay khoản phải thu, phải trả...rồi nhận xét thì mang tính tương đối với độ chính xác rất thấp...quan trọng là xem hợp đồng, bảng kê rồi phán thì chính xác hơn

  10. ducmsb

    Thành viên từ 2011

    #11 ·

    Tùy chọn cho trả lời #11

    Theo mình việc phân tích HTK của DN dược phẩm như vohoangchuong2006 có hỏi thì việc yêu cầu DN cung cấp khoản mục chi tiết HTK trên BCTC là rất cần thiết. Tuy nhiên khi phân tích bạn cần để ý rằng: Đâu là mặt hàng chiếm tỷ trong DT nhiều nhất trong các mặt hàng KD của DN (thông qua phỏng vấn để mình nắm thị trường tiêu thụ của sản phẩm này, tìm hiểu trên web để biết thêm thông tin của chính sách nhà nước đối với sản phẩm,...). Do DN này kinh doanh nhiều sản phẩm nên nếu không xem xét chi tiết mặt hàng KD chính của DN sẽ dễ bỏ qua yếu tố thời điểm, nhu cầu người sử dụng (ví dụ như thời điểm dịch cúm A bùng phát mạnh - DN nhập về rất nhiều thuốc phòng cúm nhưng sau 3 tháng bị dập tắt - sản phẩm đắp chiếu)

  11. vohoangchuong2006

    Thành viên từ 2011

    #12 ·

    Tùy chọn cho trả lời #12

    ducmsb viết:

    Theo mình việc phân tích HTK của DN dược phẩm như vohoangchuong2006 có hỏi thì việc yêu cầu DN cung cấp khoản mục chi tiết HTK trên BCTC là rất cần thiết. Tuy nhiên khi phân tích bạn cần để ý rằng: Đâu là mặt hàng chiếm tỷ trong DT nhiều nhất trong các mặt hàng KD của DN (thông qua phỏng vấn để mình nắm thị trường tiêu thụ của sản phẩm này, tìm hiểu trên web để biết thêm thông tin của chính sách nhà nước đối với sản phẩm,...). Do DN này kinh doanh nhiều sản phẩm nên nếu không xem xét chi tiết mặt hàng KD chính của DN sẽ dễ bỏ qua yếu tố thời điểm, nhu cầu người sử dụng (ví dụ như thời điểm dịch cúm A bùng phát mạnh - DN nhập về rất nhiều thuốc phòng cúm nhưng sau 3 tháng bị dập tắt - sản phẩm đắp chiếu)

    Cám ơn bạn ducmsb đã cho ý kiến!

    Bạn làm bên MSB ah?

    Mình trả lại với vấn đề HTK của Công ty dược phẩm. Thật ra mình cũng hỏi ý kiến từ các anh chị, đa phần đều nói ra sẽ phân tích HTK dựa trên 1 mặt hàng nào đó chíêm tỷ trọng lớn nhất thông qua việc phỏng vấn KH. Tuy nhiên, phỏng vấn KH và số liệu thể hiện trên BC HTK có lẽ sẽ chênh lệch đáng kể (ít nhất là trong trường hợp của mình).

    Thế này, Công ty Dươc này có hàng nghìn mặt hàng, trích lọc ra những mặt hàng có DT cao thì cũng lên đến gần trăm mặt hàng có DT cao tương đương nhau. KH thì nói loại này loại nọ là cao nhất nhưng trên BC còn có nhiều cái tương đương như vậy. Mà để hiểu những loại mặt hàng này có đặc thù chữa bênh gì thì ôi thôi pó tay --> làm sao phân tích thời điểm 🙁

    Có thể mọi người chưa có đủ thông tin do mình cung cấp nên chưa đưa ra nhiều cách tham khảo. Công ty này có 1 chuỗi cửa hàng bán lẻ đồng thời là nơi phân phối thuốc cho toàn quốc. Nên cách mình áp dụng là phân tích tồn kho đầu kỳ, xuất nhập trong kỳ và cuối kỳ của từng cửa hàng này. Hix, dĩ nhiên là ko đưa ra cụ thể 1 mặt hàng nào mà chỉ đưa giá trị chung chung thôi. Mình làm theo cách này để thấy được khả năng luân chuyển chung cho tất cả các mặt hàng --> đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của Công ty. Dĩ nhiên là có những hạn chế của nó vì sẽ ko thể thấy mặt hàng nào bán chậm hay nhanh.

    Giờ thì đã mang đi trình đợi phòng ban khác cho ý kiến thôi.

  12. nguyenminhkhang

    Thành viên từ 2012

    #13 ·

    Tùy chọn cho trả lời #13

    Sao không thấy ai nhắc đến việc phân tích HTK thời điểm, số liệu cao hay thấp, có bất thường hay không còn phải xét đến yếu tố kế hoạch kinh doanh trong thời gian tới nhỉ? ( đã trúng thầu cung cấp thuốc cho 1 bệnh viện lớn nào đó nhưng chưa thực hiện nên đã nhập sẵn một lượng hàng khiến hàng tồn tăng đột biến, sau khi kết thúc lại giảm đột biến, một chương trình cấp thuốc cho người dân....). Kênh phân phối của khách hàng là gì? các bệnh viện ( lớn hay nhỏ, trung ương hay địa phương?, việc trúng thầu cung cấp cả năm hay chỉ theo gói), có cung cấp cho hệ thống nhà thuốc không? quy mô các nhà thuốc này, trực tiếp hay gián tiếp?
    Ngành y tế rất ít nhưng không thể không nói là không bị ảnh hưởng bởi chính sách đầu tư công ( tăng thì tốt, nhưng giảm thì sẽ ảnh hưởng ít hoặc nhiều) của chính phủ. Một số bệnh viện hiện nay nhà nước giao cho tự thu tự chi, vậy các loại thuốc kinh doanh của doanh nghiệp giá cả như thế nào, chất lượng ra sao. Đánh giá vị thế đó, từ đó đánh giá được tính khả mại của hàng tồn kho là cao hay thấp, như vậy mới đánh giá được với lượng hàng tồn như thế, doanh nghiệp có bị áp lực giải phóng hàng tồn kho hay không? Thời hạn sử dụng bình quân của các mặt hàng này, hệ thống kho của doanh nghiệp có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngành hay không ( GPP....) từ đó đánh giá được khả năng chất lượng hàng tồn kho như thế nào.....và nhiều nhiều nữa.
    P/S: mình làm hồ sơ công ty dược không nhiều những theo mình nghĩ là vậy. Mong góp ý.

  13. nguyenminhkhang

    Thành viên từ 2012

    #14 ·

    Tùy chọn cho trả lời #14

    " vòng quay phải trả giảm --> số ngày phải trả tăng --> doanh nghiệp đang được chiếm dụng vốn nhiều hớn là chính xác"

    Hi, hi, mình có một quan điểm thế này: việc số ngày phải trả tăng cần phải phân tích kỹ xem nguyên nhân là từ đâu, chứ không phải lúc nào cũng phân tích là doanh nghiệp " được" chiếm dụng vốn ( ví dụ nhé: hàng tồn kho trong kỳ giảm, khoản phải thu của công ty tăng ( do tình hình khó khăn phải đẩy hàng bằng mọi giá) công ty ít nhập hàng hơn trước nhưng khoản phải trả tăng --> áp lực thanh toán cao , nếu nguồn vốn vay ngân hàng bị thắt chặt ( hết hạn mức).....thì do doanh nghiệp "không có khả năng trả" chứ không phải " được" chiếm dụng vốn.
    Vài lời chia sẻ.Thân!

Đăng nhậpĐăng ký

Khi đăng cần đăng nhập; bạn vẫn viết trước được.Viết trả lời…Viết trả lời cho chủ đề này…

Người làm ngân hàng đã xác thực qua email công việc.

Dấu tích xanh là gì