"Tài sản Có đã điều chỉnh rủi ro": thuật ngữ chính xác là "TS Có Rủi ro", nhưng a viết vậy để dễ hiểu hơn (TS Có chứ không phải TS có nhé 🙂, là "TS Có" và "TS Nợ" trên Bảng cân đối Kế toán của Ngân hàng ấy).
"Tài sản Có rủi ro" nói đơn giản là cứ lấy từng khoản mục bên phần TS Có, nhân với hệ số rủi ro tương ứng với loại TS đó (ví dụ Vàng và Tiền thì nhân với 0% --> Vì đánh giá Vàng và Tiền mặt không tạo nên rủi ro ở đây, còn Dư nợ cho vay bằng Vàng thì được nhân với 250% --> Rủi ro lớn, biết điều thì giảm ngay dư nợ đi, :))....). Đấy, cái đấy gọi là "đã điều chỉnh" vì nó không còn là con số lấy từ báo cáo ra nữa, mà đã được nhân với hệ số rủi ro tương ứng!
E đọc Điều 5 "Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn của TCTD" để biết cái nào được tính rủi ro bao nhiêu % nhé!
Còn việc trích lập dự phòng thì đã hướng dẫn chi tiết trong 02 QĐ: 439/2005 và 18/2007 như anh đã nói! Việc trích lập dự phòng thì có dự phòng chung và dự phòng riêng. Việc trích lập dựa trên Dư nợ đã được Phân loại vào Nhóm nợ từ 1 đến 5 (Như thế nào đc phân Nhóm 1, Nhóm 2, ... Nhóm 5 trong Quy định có rồi nhé)
Về cơ bản, tiêu chí phân loại và hệ số trích lập khác hoàn toàn với cái CAR bên trên.
Lưu ý: việc phân loại Nhóm nợ có 2 phương thức, định tính và định lượng, định lượng thì cụ thể rồi (sau khi đọc 02 cái qđịnh trên), còn định tính (cũng có trong 02 qđịnh trên luôn) là cứ thấy rủi ro là chuyển Nhóm Nợ thôi, ví dụ khi NH nhận thấy cho vay vàng đang rất rủi ro thì có thể chuyển tất cả Dư nợ cho vay Vàng sang Nhóm nợ cao hơn và sẽ nhân với tỷ lệ để thực hiện trích lập, nhưng hệ số trích lập cũng chỉ đến 100% là cùng thôi; ko khủng khiếp như cái CAR.:))
Đăng nhập để trả lời.
Đăng nhậpĐăng ký