Kiểm toán nội bộ hoạt động huy động vốn

phanphongvn

Verified Banker
Chào các thành viên,

Tính thanh khoản hiện nay của hệ thống ngân hàng bước đầu tương đối ổn theo như lời của Thống đốc tại cuộc chất vấn gần đây, tuy nhiên vẫn còn tiềm ẩn nhiều vấn đề có liên quan đến việc huy động vốn, từ thực tế nay mình post lên KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN để những ai làm công tác này có thể tham khảo.


Tiện thể cho mình hỏi có ai biết thông tin gì về kiểm toán nội bộ của SHB của Bầu Hiển, cho minh biết.
I. Mục tiêu kiểm toánNguồn vốn là một nghiệp vụ căn bản trong hoạt động ngân hàng, nó chiếm phần chủ yếu trong cơ cấu tài sản Nợ của ngân hàng. Một ngân hàng hoạt động có hiệu quả là ngân hàng kiểm soát được nguồn vốn mình đang quản lý, cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn ở tỷ lệ hợp lý. Muốn làm được điều này, đòi hỏi ngân hàng phải thực sự là số một trong việc cạnh tranh trên thị trường vốn cũng như các thị trường dịch vụ khác trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Rủi ro kèm theo việc mở rộng thị phần nguồn vốn của ngân hàng cũng rất lớn, nó tỷ lệ thuận với việc huy động vốn trên thị trường. Do đó đòi hỏi kiểm toán hoạt động huy động vốn của ngân hàng là tất yếu, nó nhằm đem đến cho nhà quản trị ngân hàng một cái nhìn tổng thể về hoạt động nguồn vốn nói chung, huy động vốn nói riêng ở ngân hàng mình, từ đó đưa ra những quyết sách đúng đắn về chiến lược nguồn vốn, sử dụng vốn. Đảm bảo những đồng vốn huy động sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất cho ngân hàng và hạn chế thấp nhất những rủi ro.
II. Yêu cầu kiểm toán- Đánh giá sự ổn định và khả năng thanh toán của tài sản ngân hàng.- Đánh giá sự tuân thủ các quy định của Nhà nước, ngành và NHTM trong công tác huy động vốn.- Đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn trong từng thời kỳ thông qua cơ chế lãi suất huy động, biện pháp huy động.- Đánh giá được độ tin cậy, an toàn của hệ thống kiểm soát nội bộ trong nghiệp vụ huy động vốn, bảo đảm an toàn tài sản của khách hàng và ngân hàng.- Báo cáo trung thực, khách quan trong đánh giá các vấn đề trong hoạt động huy động vốn với Ban Lãnh đạo.- Thông báo kịp thời cho Ban Lãnh đạo những tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động huy động vốn, đề xuất những giải pháp khắc phục các tồn tại đã xảy ra.III. Đối tượng kiểm toánLà những đơn vị được phép và có chức năng huy động vốn thuộc hệ thống NHTM như:- Hội sở chính ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam.- Các đơn vị thành viên được phép và có chức năng huy động vốn IV. Phạm vi kiểm toán- Hoạt động huy động vốn từ cá nhân như: Tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, giấy tờ có giá ngắn hạn, giấy tờ có giá trung dài hạn và các loại giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật.- Hoạt động huy động vốn từ các tổ chức: Tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, giấy tờ có giá ngắn hạn, giấy tờ có giá trung dài hạn và các loại giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật.- Quản trị điều hành vốn nội bộ.V. Căn cứ kiểm toán- Các chế độ của Bộ Tài chính và các hướng dẫn của NH ĐT&PT VN có liên quan đến nghiệp vụ huy động vốn.- Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN về Quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của Tổ chức tín dụng ngày 19/4/2005 của NH NN.- Quy chế về tiền gửi tiết kiệm, các quy định về mức lãi suất của NH NN.- Cơ chế điều hành vốn nội bộ của NH ĐT&PT VN.- Quy trình nghiệp vụ tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn; Quy trình giao dịch một cửa; Quy trình quản lý, sử dụng hệ thống hình ảnh, chữ ký, mẫu dấu... của NH ĐT&PT VN.VI. Phương pháp kiểm toán1 Phương pháp phân tích: - Phân tích, khuyến cáo rủi ro trong huy động vốn của đơn vị được kiểm toán trước khi thực hiện kiểm toán: Người có trách nhiệm (Trưởng Ban kiểm toán, Trưởng phòng, Trưởng nhóm...) cần tổng hợp, phân tích một cách cụ thể, khách quan về các biến động trong công tác huy động vốn của đơn vị được kiểm toán ít nhất 1 năm tính đến thời điểm dự kiến kiểm toán. Trong đó đặc biệt lưu ý chính sách nguồn vốn, báo cáo kết quả huy động vốn, báo cáo diễn biến lãi suất huy động vốn của đơn vị... Trên cơ sở phân tích các số liệu báo cáo, đưa ra dự kiến về các trọng điểm rủi ro, các điểm cần đi sâu làm rõ trong quá trình kiểm toán cụ thể. Chất lượng của quá trình phân tích này rất quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kiểm toán sau đó.- Phân tích trong quá trình thực hiện kiểm toán: Kiểm toán viên cần phải xem xét, phân tích toàn diện mọi vấn đề được đưa ra trong quá trình kiểm toán huy động vốn như: Tính tuân thủ quy định của NH NN, NH ĐT&PT VN... để đi đến kết luận sự việc đó tồn tại đúng hay sai; Tính hiệu quả của sự việc thông qua mục đích đề ra đạt được hay không khi thực hiện sự việc đó (Mục đích thông tin, mục đích phản ánh, mục đích kinh tế...) để đánh giá hiệu quả sự việc đó đạt được ở mức độ nào.2 Phương pháp kiểm tra, đối chiếu trực tiếp: - Khi kiểm tra sổ sách kế toán, tài liệu, chứng từ cần tập trung vào 3 vấn đề: Hình thức, nội dung của tài liệu chứng từ và thẩm quyền của người ký duyệt, người lập các tài liệu chứng từ đó.- Động tác đối chiếu được thực hiện nhằm xác minh, chứng thực lại xem những sự việc, số liệu được ghi chép, theo dõi và báo cáo có khớp đúng và đồng nhất giữa khách hàng và ngân hàng, giữa các bộ phận nghiệp vụ khác nhau trong ngân hàng hay không.- Nguồn tài liệu để đối chiếu: + Đối chiếu trên các sổ sách kế toán: Giữa sổ quỹ và sao kê trong ngày; giữa các báo cáo tổng hợp và chi tiết từng loại vốn huy động...+ Đối chiếu trên sổ kế toán với số liệu kiểm kê thực tế: Chọn mẫu một vài giao dịch trên sổ kế toán và tiến hành đối chiếu với khách hàng; So sánh số liệu kiểm kê và số liệu thể hiện trên sổ sách...+ Đối chiếu trên sổ kế hoạch với thực hiện.VII. Nội dung kiểm toán1 Đánh giá hệ thống KSNB: - Đánh giá hệ thống những quy định, quy trình, hướng dẫn về công tác huy động vốn được ban hành đầy đủ và thường xuyên được chỉnh sửa, cập nhật cho phù hợp với những quy định mới của NH ĐT&PT VN, NH NN và các bộ, ngành liên quan.- Hệ thống hỗ trợ kỹ thuật cho nghiệp vụ huy động vốn như hệ thống báo cáo, mã sản phẩm, khung lãi suất áp dụng trong sản phẩm huy động, hệ thống mạng vi tính, chương trình phần mềm... - Đội ngũ cán bộ làm công tác huy động vốn phải được đào tạo bài bản, có kỹ năng làm việc và phẩm chất đạo đức tốt. - Đánh giá việc phân công nhiệm vụ trong quy trình có rõ ràng, và theo đúng các quy định của NHTM.- Đánh giá công tác kiểm tra tại chỗ nghiệp vụ huy động vốn được Ban lãnh đạo ngân hàng tiến hành thường xuyên theo định kỳ. 2 Đánh giá rủi ro trọng yếu trong hoạt đông huy động vốn:a. Rủi ro về lãi suất: do biến động của lãi suất trên thị trường có thể ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động của ngân hàng.b. Rủi ro môi trường: Những biến đổi của môi trường kinh tế, xã hội của quốc gia nói chung, của từng địa phương nói riêng luôn có tác động trực tiếp đến xu hướng đầu tư các nguồn tiền nhàn rỗi của những người đầu tư (Cá nhân, doanh nhân, tổ chức...) - Rủi ro đạo đức: Cán bộ làm công tác huy động vốn thông đồng, cấu kết với những phần tử lừa đảo bên ngoài để chiếm đoạt vốn hoặc lợi dụng sự quản lý, kiểm tra, giám sát lỏng lẻo của ngân hàng để trục lợi. Thông tin, báo cáo, chỉ đạo không kịp thời, đầy đủ về kết quả huy động vốn và các diễn biến bất thường về huy động vốn.3. Một số tiêu chí đánh giá rủi ro trọng yếu trong hoạt động huy động vốn: a. Đảm bảo việc tuân thủ qui trình quản lý thông tin khách hàng; qui trình lưu trữ chứng từ và qui trình quản lý sử dụng hệ thống quản lý hình ảnh chữ ký, mẫu dấu khách hàng trên mạng máy tính.
b.Đảm bảo mã sản phẩm phù hợp với khung lãi suất hiện hành.
c.Đảm bảo sự khớp đúng giữa các loại báo cáo của giao dịch viên với chứng từ phát sinh.
d.Đảm bảo sự khớp đúng giữa tiền mặt thực tế và số liệu kế toán.
đ.Đảm bảo tuân thủ đúng quy trình giao dịch 1 cửa .
4. Nội dung kiểm toán nghiệp vụ huy động vốn:a. Đánh giá kết quả huy động vốn hai năm được cấp có thẩm quyền giao.- Các chỉ tiêu về huy động vốn như: Tỷ trọng huy động vốn; Tăng trưởng huy động vốn bình quân, cuối kỳ; Tăng trưởng huy động vốn dân cư, tổ chức kinh tế; Huy động vốn bình quân; Huy động vốn bình quân đầu người; Khả năng tự cân đối nguồn vốn; Thị phần huy động vốn; Tăng, giảm thị phần huy động vốn... đạt dưới mức yêu cầu. - Có sự phản ánh của khách hàng: Khách hàng có thể phản ánh theo hai thái cực tốt và xấu. Nếu tỷ lệ khách hàng phàn nàn về dịch vụ huy động vốn của đối tượng kiểm toán cao thì rủi ro về huy động vốn tăng lên.b.Nội dung kiểm toán cụ thể: A. Kiểm toán công tác quản trị điều hành nguồn vốn tại hội sở chínha/ Kiểm tra việc xây dựng chiến lược dài hạn về phát triển nguồn vốn, kế hoạch nguồn vốn hàng năm và từng thời kỳ của toàn hệ thống NHTM: - Đối tượng kiểm tra là Ban Kế hoạch phát triển và Ban Nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ. Việc xây dựng chiến lược, kế hoạch ngồn vốn có tính chất định hướng quan trọng để đảm bảo nguồn vốn chung của NHTM ổn định và tăng trưởng. - Tài liệu yêu cầu: + Kế hoạch chiến lược huy động vốn dài hạn, hàng năm và từng thời kỳ.+ Bảng tổng kết tài sản toàn ngành và chi nhánh cần kiểm tra.
+ Tổng kết, đánh giá công tác nguồn vốn hàng năm.- Trên cơ sở những tài liệu được cung cấp, kiểm toán viên tiến hành xem xét nội dung để rút ra kết luận: Công tác lập kế hoạch nguồn vốn có cơ sở thực tiễn và phù hợp với thị trường không? Khả năng thực hiện kế hoạch lập ra của các chi nhánh NHTM? Kế hoạch nguồn vốn có đáp ứng nhu cầu về vốn ngắn, trung, dài hạn và theo từng loại tiền không? Xây dựng kế hoạch nguồn vốn có tỷ trọng hợp lý giữa vốn đi vay và vốn huy động không?b/ Kiểm tra việc thực hiện điều hành vốn trong toàn hệ thống và việc nghiên cứu, xây dựng các sản phẩm huy động vốn mới- Kiểm tra việc thực hiện điều hành vốn tập trung vào các nội dung sau:+ Kiểm tra việc xây dựng hạn mức điều chuyển vốn cho từng chi nhánh: Phải bám sát cơ chế điều hành vốn của hội sở chính tại từng thời điểm về điều chuyển vốn trung dài hạn có mục đích hay thông thường, điều chuyển ngắn hạn, điều chuyển khác và hạn mức Hội sở chính nhận tiền gửi trung dài hạn của các chi nhánh để nhận biết được sự linh hoạt trong sử dụng nguồn huy động được và hiệu quả đem lại.+ Kiểm tra việc áp dụng các mức lãi suất điều chuyển vốn nội bộ: Hợp lý, khuyến khích các chi nhánh tự huy động để đảm bảo nhu cầu sử dụng vốn của mình, hạn chế đi vay Hội sở chính hoặc gửi vốn thừa quá nhiều.+ Kiểm tra việc xây dựng các hạn mức đầu tư liên ngân hàng (MM), hạn mức kinh doanh ngoại tệ (FX), hạn mức đầu tư vào giấy tờ có giá (Giấy tờ có giá thanh khoản, chứng khoán đầu tư...) để đánh giá thời gian đầu tư, lãi suất đầu tư có hiệu quả hay không và việc tuân thủ các hạn mức này.+ Kiểm tra việc xử lý các đề nghị của đơn vị thành viên và hướng dẫn các đơn vị thành viên về nguồn vốn.- Kiểm tra việc nghiên cứu, ban hành các sản phẩm huy động vốn mới cần tập trung vào các yếu tố sau: Các văn bản liên quan đến việc phát hành sản phẩm huy động mới.- Kiểm tra việc phát hành giấy tờ có giá (Kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi...): Kiểm tra về căn cứ phát hành, kết thúc đợt phát hành theo quyết định của pháp luật, NH NN, Bộ Tài chính.- Qua kiểm tra, đánh giá về: + Tiềm năng, nhu cầu của thị trường về sản phẩm huy động vốn mới; tính cạnh tranh của sản phẩm này.+ Những điều chỉnh, bổ xung sau một thời gian thực hiện, áp dụng sản phẩm huy động vốn mới trong thực tiễn.+ Công tác quản trị điều hành nguồn vốn tập trung của NHTM.c/ Kiểm tra việc trực tiếp huy động vốn của hội sở chính- Việc huy động vốn tại Hội sở chính có thể được thực hiện qua nhiều kênh như: Vay NH NN TƯ (Tái chiết khấu, tái cấp vốn); vay và nhận tiền gửi của các tổ chức xã hội, tổ chức tài chính tiền tệ trong và ngoài nước; tham gia thị trường mở.
- Tài liệu yêu cầu: Hợp đồng vay vốn; hợp đồng mua bán ngoại tệ; các Deal giao dịch; sổ phụ tài khoản NOSTRO; Danh sách các ngân hàng được phép giao dịch và hạn mức giao dịch với các ngân hàng đó...
- Các vấn đề kiểm tra bao gồm:
+ Kiểm tra tính tuân thủ các quy định cụ thể của NH NN VN về các hoạt động trên.+ Kiểm tra việc thực hiện quy trình+ Kiểm tra việc phân cấp thẩm quyền phê duyệt trong thực hiện các giao dịch.+ Kiểm tra việc lập và ký kết các hợp đồng mua bán, vay vốn.+ Kiểm tra việc thanh toán và hạch toán kế toán: Chú ý đối với những khoản tái đầu tư tiền gửi phải kiểm tra kỹ về thời điểm đầu tư tiếp theo, số tiền đầu tư và phần lãi nhận được để tránh bỏ sót.B. Kiểm toán hoạt động huy động vốn tại đơn vị thành viên: Hoạt động huy động vốn tại các đơn vị thành viên chủ yếu tập trung ở các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu cho nên việc kiểm tra cũng tập trung vào các tài khoản này.a/ Tài liệu yêu cầu: Bảng cân đối kế toán đến thời điểm kiểm tra; Bảng kê các tài khoản tiền gửi của tổ chức, cá nhân; Thẻ lưu; Bảng kê tính lãi; Thư từ thoả thuận quy định về các điều kiện của khoản tiền gửi có kỳ hạn (Nếu có)b/ Kiểm tra việc thực hiện quy trình huy động: Nhằm xem xét việc thực hiện quy trình của các giao dịch viên: Có thực hiện đúng các bước, đúng trình tự hay không. b1/ Phương pháp kiểm tra:Để việc kiểm tra đạt hiệu quả thì cần yếu tố bất ngờ, do vậy kiểm toán viên cần đột xuất kiểm tra (Không báo trước, hẹn trước) theo 3 phương pháp:- Quan sát độc lập việc thực hiện quy trình huy động vốn của cán bộ nghiệp vụ đối với một số khách hàng trong một khoảng thời gian nhất định.
- Phỏng vấn một số cán bộ làm công tác huy động vốn về trách nhiệm trong quy trình của họ. Có thể đặt câu hỏi về xử lý của cán bộ huy động vốn và cấp điều hành cao hơn trong trường hợp có một cán bộ trong quy trình vắng mặt.
- Xem xét các loại giấy tờ giao dịch lưu tại từng bộ phận trong một khoảng thời gian nhất định. Trường hợp nhận thấy có quá nhiều chứng từ, giấy tờ giao dịch thuộc trách nhiệm lưu giữ của những bộ phận khác nhau nhưng lại đang được lưu giữ tại bộ phận xem xét thì cần đi sâu, hỏi rõ thêm nguyên nhân tại sao?
b2/ Nội dung kiểm tra:
- Kiểm tra việc bố trí nhân sự làm công tác huy động vốn:
+ Xem xét mối quan hệ gia đình (Nếu có) giữa những cán bộ làm công tác huy động vốn tại một đơn vị (Bàn, quầy tiết kiệm, phòng giao dịch).
+ Kiểm tra việc luân chuyển cán bộ làm công tác huy động vốn theo quy định hiện hành. (Hiện nay quy định của NH ĐT&PT TƯ là 6 tháng)
+ Tìm hiểu lý do thay đổi (Do luân chuyển cán bộ, do yêu cầu công tác, do vi phạm...)
- Kiểm tra việc đăng ký chữ ký mẫu của các chức danh trong nghiệp vụ huy động vốn theo quy định.
+ Kiểm tra ấn chỉ trắng: Cần xem xét các biên bản bàn giao ghi đầy đủ về số lượng cũng như giá trị của hiện vật bàn giao, thời điểm bàn giao, ký nhận.
- Kiểm tra các thao tác của Giao dịch viên trong quy trình huy động vốn.
+ Kiểm tra việc ghi chép trên chứng từ, hạch toán kế toán và áp dụng lãi suất huy động.
+ Thông báo mức lãi suất mới nhất có được niêm yết thường xuyên tại nơi khách hàng giao dịch không?
+ Cơ cấu tiền gửi có được phân tích thường xuyên và xem xét theo xu hướng của lãi suất không?
+ Lãi và các khoản thu khác có xuất hiện tại các tài khoản bị treo không? (Tài khoản treo là TK không hoạt động trong suốt một thời gian dài, thường là 12 tháng.)
+ Kiểm tra số lượng các công cụ thanh toán và tiền mặt nhận được hàng ngày có phù hợp với số tiền của từng loại tiền gửi nhận được không? Tổng số tiền thanh toán có liên quan đến tiền gửi có phù hợp với tổng tiền gửi đã được rút hoặc đã được tính toán cũng như số lãi đã trả.
+ Kiểm tra để xác định là không có cán bộ nào có thể tự mình mở 1 TK tiền gửi; các TK mới chỉ có thể được hạch toán trong hệ thống sau khi đã được cán bộ có thẩm quyền quyết định.
+ Kiểm tra việc thanh toán gốc, lãi trong trường hợp đặc biệt như: Chuyển nhượng, uỷ quyền, mất, lĩnh thừa kế cần đi sâu xem xét những căn cứ, bằng chứng pháp lý để khẳng định các sổ, thẻ, kỳ phiếu... thanh toán được xếp vào trường hợp thanh toán đặc biệt, đồng thời xem xét các bước để thực hiện những trường hợp thanh toán này.
*/ Kiểm tra việc phát hành kỳ phiếu, trái phiếu:
- Kiểm tra trình tự, thủ tục phát hành: Tham chiếu hướng dẫn phát hành kỳ phiếu, trái phiếu của Ngân hàng từng thời kỳ.
- Đối với kỳ phiếu kiểm toán viên chú ý kiểm tra các bước phát hành đối với đơn vị thành viên chủ động phát hành và đơn vị thành viên được Hội sở chính giao cho việc huy động.
- Đối với trái phiếu là một loại chứng khoán do ngân hàng phát hành, kiểm toán viên có thể yêu cầu ngân hàng cho xem các tờ quảng cáo mà trên đó chúng cung cấp thông tin về đặc điểm, lãi suất và thời hạn trả toàn bộ nợ của các trái phiếu. Dùng lãi suất để tính chi phí cho nguồn vốn này, còn thời hạn trả nợ dùng để xác định số dư hiện tại và để phân loại chúng theo thời hạn còn lại cho đến khi ngân hàng mua lại chúng, coi như là một phần kiểm tra về thời hạn thanh toán. Hai đặc điểm riêng biệt có thể là:
+ Trái phiếu chiết khấu (Bán với giá thấp hơn mệnh giá. VD: Trái phiếu trả lãi trước): Loại này cho phép người mua có lãi ngay từ lúc bắt đầu, khoản lãi trả trước được ghi là một khoản nợ chậm trả ở bên tài sản Có của bảng tổng kết tài sản. Mệnh giá trái phiếu được nhập trong tài sản Nợ như là một khoản nợ sẽ phải hoàn trả.
+ Trái phiếu thanh toán (Mua lại) cao hơn mệnh giá: Phần chênh lệch với mệnh giá được ghi bên tài sản Nợ và được trả khi đến hạn. Mệnh giá trái phiếu là một khoản nợ chậm trả ở bên tài sản Có trong Bảng tổng kết tài sản. Khoản này có thể đủ lớn để lập các quỹ dự phòng trong những năm khi trái phiếu chưa đến hạn.
*/ Kiểm toán Huy động tiền gửi tiết kiệm dân cư và giấy tờ có giá:
- Cũng như đối với các tài khoản khác của khách hàng, kiểm toán tài khoản tiền gửi chú trọng kiểm tra các con số và sự phân loại các khoản tiền gửi có chính xác hay không. Việc kiểm toán nhằm phát hiện ra sự giả mạo trong việc phân loại các khoản tiền gửi để đạt được yêu cầu khi phân tích bảng cân đối của ngân hàng vào những thời điểm khác nhau có những kết quả khác nhau. (VD: Các chỉ số về khả năng thanh toán) Nếu phân loại các khoản tiền gửi sai có thể dẫn đến việc thanh toán lãi cho người rút tiền và thực lãi có sự chênh lệch (Ngân hàng không tuân thủ các quy định của pháp luật)
- Kiểm tra tính chính xác số dư tài khoản tiền gửi:
+ Thông qua những sao kê tài khoản tiền gửi định kỳ gửi tới cho các khách hàng được sự chứng nhận lại từ phía khách hàng, tuy nhiên nó chỉ có kết quả tương đối vì ít có khách hàng xác nhận lại số dư này.
+ Kiểm tra các báo cáo cân đối hàng ngày hay sao kê định kỳ sẽ nhận biết được sự hoạt động của tài khoản tiền gửi. Qua đó ghi lại những sự bất thường và tìm kiếm lý do trên các tài liệu kế toán, chú ý bút toán ghi Nợ từ một tài khoản không còn hoạt động, có thể đó là dấu hiệu của sự tham ô.

C. Kiểm toán việc chấp hành một số giới hạn an toàn trong hoạt động ngân hàng
Để đảm bảo an toàn, phòng ngừa một số rủi ro có thể xảy ra, NH NN VN quy định một số giới hạn an toàn trong huy động vốn và sử dụng vốn mà các TCTD phải chấp hành nghiêm túc. Việc chấp hành không đầy đủ hoặc không chấp hành các giới hạn này không chỉ là việc không tuân thủ pháp luật mà còn là dấu hiệu quan trọng báo hiệu về rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
a/ Tổng quan chung về kiểm toán việc chấp hành các giới hạn an toàn trong hoạt động ngân hàng
- Kiểm toán việc thực hiện các giới hạn an toàn trong hoạt động ngân hàng chính là kiểm toán tuân thủ, do vậy nhiệm vụ chủ yếu của kiểm toán viên là căn cứ trên các số liệu, dữ liệu do đơn vị được kiểm toán cung cấp hoặc tự thu thập được để tính toán. Các dữ liệu, số liệu đầu vào cho quá trình tính toán cần phải được kiểm tra về độ tin cậy.
- NH NN VN quy định việc áp dụng các giới hạn an toàn trong phạm vi một TCTD nói chung, do đó chủ yếu kiểm toán viên chỉ đánh giá việc tuân thủ các chỉ tiêu tại Hội sở chính (Qua bảng cân đối kế toán toàn ngành).
- Các giới hạn an toàn thường xuyên thay đổi theo các chính sách quản lý của NH NN VN nên cần được cập nhật để nắm vững và có đánh giá chính xác việc tuân thủ.
- Tại thời điểm cuối quý, cuối năm qua kiểm toán cho thấy thường việc chấp hành là đúng quy định, tuy nhiên cũng có thể ngoài thời điểm đó có thời gian các giới hạn an toàn bị vi phạm, do đó kiểm toán viên cần lựa chọn khoảng thời gian bất kỳ để kiểm tra.
b/ Cách tính một số giới hạn an toàn chủ yếu liên quan đến quản trị và điều hành nguồn vốn của NHTM:
- Tham chiếu Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 của Thống đốc NHNN VN về Quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD; Thông tư số 03/2000/TT-NHNN5 ngày 16/3/2000 hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi.
- Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu = Vốn tự có : Tổng tài sản Có rủi ro
Tỷ lệ này tối thiểu phải đạt 8%.
- Vốn tự có để tính tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu = (Vốn cấp 1 + Vốn cấp 2) – Các khoản phải loại trừ khỏi Vốn tự có
- Vốn cấp 1 = Vốn điều lệ (Vốn đã được cấp, vốn đã góp) + Quỹ dự trữ bổ xung vốn điều lệ + Quỹ dự phòng tài chính + Quỹ đầu tư phát triển nghiệp vụ + Lợi nhuận không chia.
- Vốn cấp 2 = 50% Giá trị tăng thêm của TSCĐ được định giá lại theo quy định của pháp luật + 40% Giá trị tăng thêm của các loại chứng khoán đầu tư (Kể cả cổ phiếu đầu tư, vốn góp) được định giá lại theo quy định của pháp luật + Trái phiếu chuyển đổi hoặc cổ phiếu ưu đãi do TCTD phát hành có thời hạn còn lại 6 năm + Các công cụ nợ khác có thời hạn còn lại 10 năm + Dự phòng chung (Tối đa = 1,25% tổng Tài sản Có rủi ro).
- Các khoản phải loại trừ khỏi Vốn tự có = Số tiền NHTM dùng mua cổ phần của các TCTD khác + Phần góp vốn, liên doanh với các doanh nghiệp khác vượt mức 15% vốn tự có của NHTM + Toàn bộ phần giá trị giảm đi của TSCĐ do định giá lại theo quy định của pháp luật + Toàn bộ phần giá trị giảm đi của các loại chứng khoán đầu tư (Kể cả cổ phiếu đầu tư, vốn góp) được định giá lại theo quy định của pháp luật.
- Tài sản Có rủi ro = Tài sản Có rủi ro nội bảng + Tài sản Có rủi ro ngoại bảng.
+ Tài sản Có rủi ro nội bảng = Tổng nhóm Tài sản Có rủi ro với mức độ 0%; 20%; 50%; 100%.
+ Tài sản Có rủi ro ngoại bảng = Tổng các cam kết ngoại bảng có hệ số chuyển đổi 0%; 20%; 50%; 100% + Tổng các hợp đồng giao dịch lãi suất và hợp đồng giao dịch ngoại tệ có hệ số chuyển đổi 0,5%; 1,0%; 2,0%; 5,0%; ... có tính đến hệ số rủi ro là 0%; 50%; 100% tuỳ theo quy định cho mỗi khoản mục.
- Khả năng thanh toán ngay = Tài sản Có có thể thanh toán ngay trong thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo / Tài sản Nợ phải thanh toán trong thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo. Tỷ lệ này tối thiểu bằng 1
- Tỷ lệ khả năng chi trả = Tài sản Có có thể thanh toán ngay trong thời gian 1 tháng tiếp theo / Tài sản Nợ phải thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo. Tỷ lệ này tối thiểu bằng 25%
- Tài sản Có có thể thanh toán ngay = Tiền mặt tồn quỹ + Vàng + Tiền gửi tại NH NN + Số chênh lệch lớn hơn giữa tiền gửi không kỳ hạn tại TCTD khác và tiền gửi không kỳ hạn nhận của TCTD đó + Tiền gửi có kỳ hạn tại các TCTD khác đến hạn thanh toán + Các loại chứng khoán do Chính phủ Việt nam phát hành hoặc được Chính phủ Việt nam bảo lãnh + 100% số tiền ghi trên các hối phiếu của bộ chứng từ thanh toán hàng xuất đã được ngân hàng nước ngoài chấp nhận thanh toán, có thời hạn còn lại từ 01 tháng trở xuống + 80% các khoản cho vay có bảo đảm, cho thuê tài chính, sẽ đến hạn thanh toán (Gốc, lãi) trong thời gian 1 tháng + 75% các khoản cho vay không có bảo đảm, đến hạn thanh toán + Các loại chứng khoán khác (Tính theo tỷ lệ % cho từng loại) + Các khoản khác đến hạn phải thu.
- Tài sản Nợ phải thanh toán = Số chênh lệch lớn hơn giữa tiền gửi nhận của TCTD khác và tiền gửi tại TCTD đó đến hạn thanh toán + 15% Tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức (Từ tiền gửi của TCTD khác), cá nhân + Giá trị các cam kết cho vay của TCTD đến hạn thực hiện + Tất cả các tài sản Nợ khác sẽ đến hạn thanh toán.
Việc kiểm toán khả năng thanh toán ngay được thực hiện tại Hội sở chính NHTM, tại các đơn vị thành viên tuỳ thuộc vào chương trình kiểm toán.
- Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung dài hạn = 40%(Tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 12 tháng của tổ chức (Kể cả của TCTD khác), cá nhân + Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn dưới 12 tháng của cá nhân + Nguồn vốn huy động dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn + Phần chênh lệch lớn hơn giữa số tiền vay của TCTD khác và tiền cho TCTD đó vay có kỳ hạn dưới 12 tháng).
- Dự trữ bắt buộc: Hội sở chính NHTM có trách nhiệm thực hiện đúng giới hạn về dự trữ bắt buộc dưới hình thức tiền gửi tại Sở giao dịch NHNN.
Tổng số tiền gửi để tính dư dự trữ bắt buộc bao gồm cả VND và ngoại tệ quy đổi = Tiền gửi của khách hàng + Tiền gửi vốn chuyên dùng + Tiền gửi của tổ chức, người nước ngoài + Tiền gửi tiết kiệm + Chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu có kỳ hạn dưới 12 tháng + Tiền quản lý, giữ hộ + Tiền gửi kho bạc Nhà nước.
- Tỷ lệ đóng bảo hiểm tiền gửi = 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm.
- Các loại tiền gửi được bảo hiểm gồm:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, có kỳ hạn; Tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn bao gồm cả tiền gửi trên TK cá nhân; Tiền mua các chứng chỉ tiền gửi và các trái phiếu ghi danh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phát hành.
Hội sở chính NHTM tính toán và nộp cho toàn hệ thống trên cơ sở báo cáo cân đối toàn ngành.
VIII.Lập và gửi báo cáo kiểm toán .1. Nguyên tắc lập báo cáo kiểm toán:Báo cáo rõ ràng chính xác từ mỗi cuộc kiểm toán giúp cho việc thiết lập một tập hợp các thông tin chính xác về hoạt động huy động vốn giúp cho công tác điều hành của lãnh đạo có được những quyết sách đúng đắn điều chỉnh những sai sót, không ngừng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh có hiệu quả. - Báo cáo kiểm toán phải trình bầy rõ nội dung đã kiểm toán, cụ thể đã tiến hành hoạt động kiểm toán tại chi nhánh nào? Thời gian kiểm toán, thực hiện việc kiểm tra trên những hồ sơ nào? chọn mẫu những đơn vị nào?- Nội dung Báo cáo yêu cầu chính xác, rõ ràng để tránh hiểu nhầm, tránh những tữ khó hiểu, thuật ngữ và tránh những chi tiết không cần thiết để đảm bảo tác dụng của Báo cáo. Phản ánh sự thật, không thiên vị và những phát hiện trong báo cáo không mang tính thành kiến và bóp méo. Báo cáo cần mang tính xây dựng, giúp đỡ đối tượng kiểm toán và với những kiến nghị, đề xuất các biện pháp sửa chữa và khắc phục sai phạm, cải tiến quy trình nghiệp vụ. Báo cáo về những phát hiện mang tính thủ tục và kiểm soát chứ không mang tính chất của phát hiện đơn lẻ. Những sai sót đơn lẻ không mang lại giá trị và có thể có những tác động ngược lại đối với bản báo cáo. - Toàn bộ những phát hiện trong báo cáo cần được trích dẫn đến những hồ sơ, báo cáo kiểm toán chi tiết và cần được trao đổi với giám đốc/Phụ trách bộ phận . Trong báo cáo cần đưa ra một thời gian chính thức để bộ phận này giải đáp vấn đề và cần thông báo rằng trong trường hợp không thực hiện yêu cầu sẽ bị nêu trong báo cáo.2. Những nội dung sau đây cần được nêu trong báo cáo:- Phạm vi công việc kiểm toán - Đánh giá môi trường kiểm soát- Những điểm mạnh cụ thể và những phát hiện mang tính tích cực.- Những yếu kém trong công tác quản lý huy động vốn và những sai sót được phát hiện (có các bằng chứng kèm theo).- Giải trình của đối tượng kiểm toán về những sai sót.- Kết luận về nội dung kiểm toán.- Khuyến nghị và đề xuất chỉnh sửa khắc phục sai sót.- Khuyến nghị khác.3. Gửi báo cáo kiểm toán : Báo cáo kiểm toán được gửi đến 4 nơi sau đây:- Chủ tịch Hội đồng quản trị.- Trưởng ban kiểm soát Hội đồng quản trị- Ban Lãnh Đạo Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam - Đơn vị được kiểm toán. 4. Theo dõi sau kiểm toán.- Xem xét báo cáo khắc phục của đối tượng kiểm toán.- Tiến hành kiểm tra lại tại đối tượng kiểm toán về các hoạt động sửa chữa, khắc phục và các kết quả hay hiện trạng liên quan đến các phát hiện kiểm toán quan trọng. Thời gian thực hiện việc kiểm tra này phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các vấn đề và các điều kiện có liên quan.- Phương pháp kiểm tra bao gồm phỏng vấn, quan sát trực tiếp, thử nghiệm và kiểm tra bằng chứng của các hoạt động sửa đổi; công việc kiểm tra này cũng được lập hồ sơ như các công việc kiểm toán khác.- Đánh giá lại các rủi ro trong hệ thống kiểm soát nội bộ dựa trên các điều kiện đã được sửa đổi hoặc dựa trên những giải pháp mà đối tượng kiểm toán cho biết là đã hoặc sẽ thực hiện.- Lập báo cáo theo dõi sau kiểm toán.
 

Tin tuyển dụng mới nhất

Thống kê MXH

Tổng số chủ đề
34,586
Số bình luận
528,092
Tổng số thành viên
352,227
Thành viên mới nhất
vegasgg
Back
Bên trên