Có mất tiền khi công ty bảo hiểm nhân thọ phá sản?

kenfntnkg

THAY ĐỔI KHÔNG NGỪNG!
#1
5.jpg



Câu hỏi rất thường gặp như:
- "Công ty bảo hiểm nhân thọ phá sản rồi tôi có lấy lại tiền được không?"

- "Thôi, không tham gia bảo hiểm nhân thọ đâu, công ty biến mất rồi biến đòi ai!".
- "Công ty bảo hiểm nhân thọ toàn là công ty nước ngoài, nó dẹp rồi thì qua nước nó đòi à!"

- "Tôi đóng phí 20 năm mà năm thứ 10 công ty phá sản thì sao?"

A. Công ty bảo hiểm nhân thọ được thành lập với rất nhiều điều kiện bắt buộc dựa trên quy định của pháp luật Việt Nam
Thứ nhất:
Doanh nghiệp bảo hiểm phải có đủ khả năng tài chính để đáp ứng cam kết với người tham gia bảo hiểm. Cụ thể doanh nghiệp phải có số vốn điều lệ đã đóng không thấp hơn mức vốn pháp định do Chính phủ quy định và phải duy trì số vốn này trong suốt quá trình hoạt động.

Ngoài ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải có nguồn vốn chủ sở hữu tương ứng với quy mô hoạt động để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm của mình. Hơn nữa, sau khi thu phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập dự phòng nghiệp vụ đầy đủ để đáp ứng khả năng chi trả cho người tham gia bảo hiểm. Thế nên người mua bảo hiểm nhân thọ có thể yên tâm về khả năng tài chính của công ty bảo hiểm.

Thứ hai: Pháp luật quy định rõ danh mục đầu tư vốn và việc đầu tư vốn của doanh nghiệp phải được thực hiện an toàn, hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo hợp đồng bảo hiểm.

Thứ ba: Doanh nghiệp bảo hiểm phải chịu sự kiểm tra giám sát về nội dung và phạm vi hoạt động bao gồm quy tắc điều khoản, biểu phí bảo hiểm áp dụng, địa bàn triển khai, đối tượng khách hàng. Trường hợp doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm muốn thay đổi nội dung, phạm vi hoạt động cũng phải được Bộ Tài chính chấp thuận.

Thứ tư: Ngay cả khi doanh nghiệp bảo hiểm trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ, duy trì mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định do Chính phủ quy định, những nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp không tương ứng với quy mô hoạt động theo mức do Chính phủ quy định, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bị đặt vào trường hợp có nguy cơ mất khả năng thanh toán. Trong trường hợp này, Bộ Tài chính sẽ thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động theo Thông tư số 195/2014/TT-BTC có hiệu lực từ 1/2/2015.

Thứ năm: Người quản trị, điều hành của doanh nghiệp bảo hiểm phải có năng lực quản lý, nghiệp vụ chuyên môn về bảo hiểm.

B. Nếu doanh nghiệp bảo hiểm giải thể, phá sản:

Ngoài các quy định trên, trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm giải thể, phá sản, thì doanh nghiệp bảo hiểm phải chuyển giao toàn bộ các hợp đồng bảo hiểm đã ký cho doanh nghiệp bảo hiểm khác theo thỏa thuận hay theo chỉ định của cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm, kèm theo việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm là chuyển giao tài sản, các quyền và nghĩa vụ tài chính.

1. Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm sang doanh nghiệp bảo hiểm khác
[SOCIALLOCKER]“Điều 74. Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm
1. Việc chuyển giao toàn bộ hợp đồng bảo hiểm của một hoặc một số nghiệp vụ bảo hiểm giữa các doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện trong những trường hợp sau đây:
a) Doanh nghiệp bảo hiểm có nguy cơ mất khả năng thanh toán;
b) Doanh nghiệp bảo hiểm chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể;
c) Theo thoả thuận giữa các doanh nghiệp bảo hiểm.
2. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm có nguy cơ mất khả năng thanh toán, giải thể mà không thoả thuận được việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác thì Bộ Tài chính chỉ định doanh nghiệp bảo hiểm nhận chuyển giao.”[/SOCIALLOCKER]
Như vậy trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm mất khả năng thanh toán, bị chia, tách, hợp nhất, sát nhập, giải thể thì bắt buộc cần thực hiện việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm giữa các doanh nghiệp BHNT theo thỏa thuận của các bên. Trường hợp các doanh nghiệp bảo hiểm không thỏa thuận được việc chuyển giao thì Bộ tài chính đứng ra can thiệp chỉ định hoạt động này.
[SOCIALLOCKER]“Điều 75. Điều kiện chuyển giao hợp đồng bảo hiểm[/SOCIALLOCKER][SOCIALLOCKER]
Việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm được thực hiện theo các điều kiện sau đây:[/SOCIALLOCKER]
1. Doanh nghiệp bảo hiểm nhận chuyển giao đang kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm được chuyển giao;
2. Các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao không thay đổi cho đến khi hết thời hạn hợp đồng bảo hiểm;
3. Việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm phải kèm theo việc chuyển giao các quỹ và dự phòng nghiệp vụ liên quan đến toàn bộ hợp đồng bảo hiểm được chuyển giao.”
Như vậy, việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm phải đảm bảo quyền lợi của khách hàng sẽ không bị thay đổi cho đến hết thời hạn hợp đồng bảo hiểm.

2. Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm được sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm phá sản
Trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ phá sản hoặc mất khả năng thanh toán thì Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm sẽ được sử dụng để chi trả quyền lợi cho khách hàng. Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm là yêu cầu bắt buộc mà doanh nghiệp bảo hiểm phải trích lập theo tỷ lệ phần trăm trên phí tham gia Bảo hiểm của Khách hàng.

Theo quy định tại điểm 1 Điều 107 Nghị định số 73/2016/NĐ-CP của Chính phủ:
[SOCIALLOCKER]“Điều 107. Hạn mức chi trả của Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm[/SOCIALLOCKER][SOCIALLOCKER]
1. Đối với hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, Quỹ chi trả tối đa 90% mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, nhưng không quá 200 triệu đồng/người được bảo hiểm/hợp đồng. Mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tương ứng với từng trường hợp được quy định như sau:
a) Đối với các hợp đồng đã xảy ra sự kiện bảo hiểm nhưng chưa được chi trả quyền lợi bảo hiểm, mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm là quyền lợi bảo hiểm được hưởng theo thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm;[/SOCIALLOCKER]
b) Đối với các hợp đồng mang tính tiết kiệm, có giá trị hoàn lại và đang còn hiệu lực, mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm tương ứng với giá trị hoàn lại của hợp đồng tại thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố doanh nghiệp bảo hiểm mất khả năng thanh toán hoặc phá sản;
c) Đối với các hợp đồng chỉ mang tính bảo vệ, không có giá trị hoàn lại và đang còn hiệu lực, mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm tương ứng phần phí bảo hiểm đã đóng cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm;
d) Đối với các hợp đồng bảo hiểm liên kết đầu tư đang còn hiệu lực, mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm tương ứng với giá trị tài khoản của khách hàng tại thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố doanh nghiệp bảo hiểm mất khả năng thanh toán hoặc phá sản;
đ) Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có nhiều người được bảo hiểm, hạn mức chi trả tối đa của Quỹ quy định tại điểm a, điểm b, điểm c và điểm d khoản 1 Điều này được áp dụng đối với từng người được bảo hiểm, trừ trường hợp giữa những người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thỏa thuận khác tại hợp đồng bảo hiểm.”
Như vậy, trường hợp xấu nhất khi doanh nghiệp bảo hiểm phá sản, hạn mức chi trả tối đa là 90% mức trách nhiệm của doanh nghiệp BH nhân thọ, nhưng không quá 200 triệu đồng/người được bảo hiểm/hợp đồng.

Nguồn: Tổng hợp

Các bài liên quan:
 



Top